Nhân vật sự kiện

Tiếng nói của cựu binh và báo chí Mỹ về chất da cam/dioxin

28/03/2026 20:46

Các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam là đối tượng lên tiếng khá sớm để đòi công đạo vì những tổn hại mà họ phải chịu đựng trong thời kỳ ở Việt Nam.

Ở một đất nước mà mọi vấn đề khúc mắc đều có thể giải quyết tại tòa, chính phủ Mỹ không thể phớt lờ đòi hỏi của các cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam.

Ngay vào khoảng những năm cuối của thập niên 1970, các cựu binh Mỹ ở Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam/dioxin đã bắt đầu khởi kiện. Năm 1984, tại New York, hơn 15.000 cựu binh Mỹ từng phục vụ ở Việt Nam, nhiều người trong số họ mắc ung thư, con cái sinh ra dị tật, đồng loạt nộp đơn kiện các tập đoàn hóa chất như Dow Chemical, Monsanto, Diamond Shamrock.

“Đây là cuộc chiến pháp lý chưa từng có. Bên bị là những “gã khổng lồ” công nghiệp, bên nguyên đơn là những người từng phục vụ chính quyền, giờ trở thành nạn nhân của chính họ”, tác giả Peter Schuck viết trong cuốn Agent Orange on Trial - Tác nhân da cam ra tòa.

Vụ kiện kết thúc bằng một thỏa thuận: các công ty hóa chất chi 180 triệu USD để lập quỹ bồi thường cho cựu binh Mỹ, nhưng không thừa nhận trách nhiệm.

Một bài báo với tiêu đề “Vụ kiện chất độc da cam của cựu chiến binh Việt Nam sắp được đưa ra xét xử”. Bài báo được đăng trên tờ New York Times ngày 6/5/1984.
Một bài báo với tiêu đề “Vụ kiện chất độc da cam của cựu chiến binh Việt Nam sắp được đưa ra xét xử”. Bài báo được đăng trên tờ New York Times ngày 6/5/1984.

Khoản tiền trả trợ cấp tàn tật cho cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam tăng 60% từ năm 2003 lên con số 13,7 tỷ USD năm 2008, đến năm 2009 chiếm đến một nửa số tiền bồi thường mà Bộ các vấn đề về cựu binh Mỹ phải trả cho tất cả cựu binh Mỹ trong mọi cuộc chiến.

Khoản phí bồi thường trung bình cho cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam cao hơn 41% số tiền bồi thường cho cựu binh Mỹ trong Chiến tranh Thế giới II và hơn 35% cho số lính Mỹ tham gia chiến tranh Triều Tiên. Khoản trợ cấp thương tật này không bao gồm khoản chi phí trị giá hàng tỷ USD chăm sóc sức khỏe cho cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam.

Tháng 9/2009, có thêm hai căn bệnh được liệt vào danh sách các loại bệnh mà cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam yêu cầu bồi thường. Sự mở rộng danh sách này, theo Bộ các vấn đề về cựu binh Mỹ ước tính, sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới 200.000 cựu binh Mỹ và tốn hàng tỷ USD hàng năm từ ngân sách.

Năm 2010, Chicago Tribune, tờ nhật báo chính miền Trung Tây Hòa Kỳ và là một trong 10 tờ báo lớn nhất nước Mỹ đi một loạt bài phóng sự điều tra 5 kỳ do một nhóm phóng viên thực hiện, trong đó giữ vai trò chủ chốt là Tim Jones và Jason Grotto.

5 phần của loạt bài này được thực hiện ở cả Việt Nam và Mỹ. Tại Mỹ, loạt điều tra đã nghiên cứu hàng nghìn trang tài liệu của chính phủ Mỹ, khảo sát rất nhiều gia đình cựu chiến binh Mỹ để đánh giá tác động và tính toán cái giá phải trả cả về tiền của và những bất hạnh tinh thần. Tờ Chicago Tribune đã sử dụng dữ liệu của các đơn vị quân đội Mỹ từng rải chất rụng lá xuống Việt Nam, phần mềm vẽ bản đồ và thiết bị định vị toàn cầu để chứng minh cho loạt phóng sự này.

2.jpg
Phần cuối trong series 5 phần của bài báo về chất da cam/dioxin đăng trên tờ Chicago Tribune bởi Jason Grotto và Tim Jones.

Với sự hỗ trợ của Hiệp hội Báo chí điều tra, tờ Chicago Tribune đã có một tháng khảo sát tới tám tỉnh trên khắp Việt Nam để tiến hành gần 24 cuộc phỏng vấn người dân và các cựu chiến binh bị phơi nhiễm chất làm rụng lá.

Đây là những phản ảnh chân thực trên một tờ báo Mỹ về hoàn cảnh của những nạn nhân da cam/dioxin cả ở Mỹ và Việt Nam. “Tại trung tâm bang Indiana, có hai chị em gái đang phải vật lộn ngày này qua ngày khác, khổ cực với những cơn đau từ cột sống và não gây nên. Họ đều ngoài 30 tuổi, nhưng cơ thể lại đang dần dần teo đi.

Cách đó hàng ngàn dặm, giữa những cánh đồng lúa Việt Nam, một người cha đang giữ chặt cô con gái 19 tuổi khi cô quằn quại trong cơn đau co giật do chất độc trong não cứ cuộn lên từng hồi trong suốt 4 năm qua.

“Các bác sĩ đều nói họ rất thông cảm, nhưng họ không thể chữa cho con tôi”, người cha nói. “Họ nói rằng tôi nên đưa con bé về nhà và con bé sẽ không thể sống lâu được nữa”.

Các cô gái này đến từ những nền văn hóa khác nhau, từ những quốc gia cách nhau hơn 8.300 dặm (gần 13.500 km). Những người cha của họ đã chiến đấu ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh Việt Nam, nhưng họ đều có điểm chung khi cùng hứng chịu di sản “dai dẳng” của chất độc da cam và những chất hóa học làm rụng lá khác mà quân đội Mỹ đã rải xuống Việt Nam nhiều thập kỷ trước...

3.jpg
Carrie Price-Nix, bên trái, và chị gái Amanda Price Palmer, đi bộ từ nhà Palmer sang nhà Price-Nix bên cạnh sau chuyến thăm gần đây. Cả hai chị em đều đã cam chịu cuộc sống mệt mỏi kéo dài và tàn tật vĩnh viễn vì bệnh tật. (Ảnh: Chris Walker/Chicago Tribune)

...Gần bốn thập kỷ sau, trên con phố tĩnh lặng tại Brownsburg- Indiana, Carrie Price-Nix và Amanda Price Palmer đã chấp nhận cuộc sống đau đớn kéo dài và tàn tật vĩnh viễn. Trong hơn 20 năm, hai chị em nhà Price phải trải qua 41 lần phẫu thuật, trong đó có năm lần phẫu thuật não, hai lần phẫu thuật cột sống và một lần cắt bỏ tử cung.

Cha họ, ông Stephen Price từng là một thợ máy thuộc Không lực Hoa Kỳ phục vụ trong căn cứ không quân đóng tại Đà Nẵng năm 1967. Thậm chí cho đến nay, khu vực này vẫn chứa lượng TCDD cao gấp 365 lần mức Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho phép.

Ông Price chết vào tháng 4/2008 sau thời gian chiến đấu với căn bệnh bạch cầu, đái tháo đường và bệnh mụn cóc do nhiễm Clo, tất cả các bệnh này đều liên quan mật thiết với chất diệt cỏ được sử dụng tại Việt Nam. Ông bắt đầu nhận được khoản bồi thường tàn tật đầy đủ từ Bộ các vấn đề về cựu binh Mỹ vào năm 2005, sau hai năm chờ đợi yêu cầu của ông được chấp nhận. Hai con gái của ông đều bị chứng dị tật cơ thể Chiari, một dạng khiếm khuyết cấu trúc não kèm theo bệnh nứt đốt sống, căn bệnh mà Bộ các vấn đề về cựu binh Mỹ thừa nhận là dị tật bẩm sinh có liên quan tới chất làm rụng lá ở đời con cháu của các cựu binh Mỹ.

Ông Price đã đệ đơn yêu cầu bồi thường cho cô con gái Price-Nix tới Bộ các vấn đề về cựu binh Mỹ vào tháng 7/2002. Sau ba năm sáu tháng, Price-Nix được nhận một phần bồi thường. Nhưng đến lúc đó, bàng quang của cô đã hỏng hoàn toàn, và cha cô thì đang hấp hối.

Palmer, cũng với những vấn đề sức khỏe như cô chị đã phải mất sáu năm để yêu cầu bồi thường từ Bộ các vấn đề về cựu binh Mỹ. Chị gái cô, Price-Nix nói: “Họ đang chờ em chết đi”. Tuần trước, cơ quan này đã từ chối yêu cầu của Palmer, viện cớ rằng căn bệnh của cô không liên quan tới bệnh nứt đốt sống.

Tình trạng thoái hóa các cơ bụng của Palmer bắt buộc cô phải thực hiện việc đại tiện bằng tay. Price-Nix có một thiết bị điều hòa để điều chỉnh ruột và phải tự thông ruột hàng ngày. “Chúng tôi là kẻ bẩn thỉu”, Palmer nói một cách tếu táo, rồi hai chị em cô òa khóc khi nhận thấy thực tế sẽ không có gì khắc phục được tình trạng này.

4.jpg
Ông Đỗ Đức Dịu, 58 tuổi, đang an ủi con gái Đỗ Thị Nga, 15 tuổi, trong khi con gái khác của ông, Đỗ Thị Hằng, 19 tuổi, ngồi trên xe lăn tại nhà riêng ở tỉnh Quảng Bình, miền Trung Việt Nam. Ông Dịu có 15 người con. Mười hai người đã qua đời khi các em chưa đầy 3 tuổi. Hằng thường xuyên bị co giật do dịch não tích tụ, còn Nga thì có các triệu chứng giống bại não. Ông Dịu đã phục vụ tại Thung lũng A Lưới, trước đây gọi là A Shau, nơi hơn 400.000 gallon thuốc diệt cỏ đã bị phun.

Cách rất xa Brownsburg, tại miền trung Việt Nam, tỉnh Quảng Bình, có cô gái Đỗ Thị Hằng, 19 tuổi cũng chịu các căn bệnh như hai chị em nhà Price. Cô thường xuyên lên cơn co giật do chất độc tích tụ trong não. Cô không thể đi lại và khó điều khiển được ruột.

Bố mẹ cô chưa bao giờ nhận được chuẩn đoán chính xác bởi hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam còn nhiều thiếu thốn, nhưng biểu hiện đau đớn ở Hằng cho phản ánh những người phải chịu đựng chứng nứt đốt sống.

Khi còn là một người lính chống Mỹ, người cha 58 tuổi của Hằng, ông Đỗ Đức Dịu đã đóng quân bốn năm tại căn cứ không quân A So bỏ hoang của Mỹ tại một thung lũng nằm trên con đường mòn Hồ Chí Minh dọc biên giới với Lào. Các lực lượng Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã rải hơn 400.000 gallon chất diệt cỏ xuống thung lũng A Lưới, tên cũ là A Sầu.

Những nghiên cứu mới cho thấy các khu vực mà quân đội Mỹ cất trữ hóa chất diệt cỏ trong căn cứ không quân A So vẫn chứa hàm lượng lớn chất TCDD nguy hiểm.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ông Dịu và vợ, bà Phạm Thị Nức có tới 15 người con. 12 trong số đó đã chết trước tuổi lên ba, tất cả đều mắc chứng bệnh như Hằng. Những ngôi mộ nhỏ bé nằm trên ngọn đồi cát đằng sau căn nhà mà gần như ngày nào ông Dịu cũng thắp hương cho những linh hồn bé nhỏ.

Kết thúc loạt bài phóng sự, tờ Chicago Tribune đưa ra nhận định: “Trong khi những người lính Mỹ nhận được bồi thường thì một số lượng lớn người dân Việt Nam không được nhắc đến. Những người này, kể cả rất nhiều người thậm chí không sống trong vùng chiến sự cũng đang phải chịu đựng những căn bệnh có liên quan chặt chẽ tới chất làm rụng lá. Hiện có hơn hàng chục nghìn người sống trong vùng nguy cơ mắc bệnh do chất dioxin vẫn tồn tại trong môi trường ở hàng chục căn cứ quân sự cũ của Mỹ.”

Không phải chỉ có duy nhất tờ Chicago Tribune lên tiếng.

Khoảng năm 2010, nhà báo Mỹ Connie Schultz đã bỏ ra một năm ròng thu thập tài liệu và trò chuyện với những người có liên quan đến cuộc chiến ở Mỹ và cả Việt Nam. Loạt hồ sơ của bà về chất độc da cam khởi đăng trên tờ The Plain Dealer từ ngày 30-1-2011 sau đó đã giành được giải thưởng báo chí xuất sắc của Hiệp hội Biên tập báo chí Mỹ và Canada.

5.jpg
Bill Morris (trái) cùng vợ Sharon Morris (phải) và con gái Heather. "Chúng tôi đã thề sẽ không nuôi dạy con bé để trở thành một người khuyết tật", Sharon nói. "Chúng tôi sẽ làm mọi thứ có thể để giúp con bé trở nên mạnh mẽ hơn."

Nhà báo Connie Schultz, trong loạt bài của bà đã ghi lại câu chuyện về cô gái Heather Bowser, người Mỹ, một nạn nhân chất độc da cam. Cha cô, Bill Morris, bị bắt quân dịch vào năm 1967 và đưa sang Việt Nam chỉ chín ngày sau đám cưới của ông với Sharon.

Khi đặt chân đến Việt Nam, Heather mới biết rằng dị tật của cô không phải là vấn đề duy nhất. Những trẻ em ở Làng trẻ Hữu nghị Hà Nội hay khu chăm sóc trẻ em da cam ở Bệnh viện Từ Dũ, mang những thương tật lớn hơn cô.

Khi gặp những cô bé, cậu bé ấy, “Heather tự nói với mình, chua chát: Một cuộc chiến đã đưa hai con người tật nguyền giống nhau gặp nhau như thế này, ở đây.

Nhưng rồi cô chợt nghĩ: Mình bị mất một chân nhưng có được cái chân giả trị giá 25.000 đôla này để đi khắp nơi trên thế giới. Còn cậu bé ngồi trên chiếc xe lăn đây, vẫn cười nhẹ, rụt rè với khách lạ.” - Connie Schultz viết./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Tiếng nói của cựu binh và báo chí Mỹ về chất da cam/dioxin
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO