Tư liệu lịch sử

Nỗ lực "vòng qua bức tường" của Tướng Nguyễn Chí Vịnh

10/04/2026 18:11

Khi đi sâu tìm hiểu vấn đề khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh, cụ thể là chất độc da cam/dioxin, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh nhận thấy quá trình này bị “mắc kẹt” lại ở những vụ kiện liên quan đến bồi thường cho các nạn nhân của chất độc da cam/dioxin.

Đó là kết quả tất yếu do những phán quyết bất lợi của Tòa án Mỹ đối với các vụ kiện da cam/dioxin, trong đó nổi bật hơn cả là chuyện các công ty của Mỹ có chịu bồi thường cho các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam hay không…

Chính vì quá chú tâm vào khía cạnh chất độc da cam/dioxin có phải là thủ phạm tác động trực tiếp gây nên hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe của các nạn nhân Việt Nam hay không và do vậy, các công ty hóa chất của Mỹ bồi thường hay không bồi thường, trong khi lập trường chính thức của hai phía về vấn đề này lại quá khác biệt, nên tiến trình khắc phục hậu quả da cam/dioxin ở Việt Nam, hơn ba thập niên sau khi chiến tranh kết thúc, chỉ mới có những bước đi chập chững ban đầu.

Tướng Vịnh rất hiểu tình thế của một người đang đi thì bỗng thấy một bức tường vững chãi chắn ngang trước mặt. Khi ấy, người đi bộ có hai lựa chọn: hoặc cứ cố đi tiếp và đập đầu vào tường; lựa chọn thứ hai là tìm cách đi vòng qua nó, bởi không có bất cứ một bức tường nào đủ dài vô tận đến mức không vượt qua được.

Vậy nên suy nghĩ hợp lý duy nhất ở đây là trong khi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước vẫn tiếp tục các quá trình pháp lý liên quan đến việc buộc các công ty hóa chất Mỹ bồi thường cho các nạn nhân Việt Nam thì sao không tìm một hướng đi mới, song song: khắc phục hậu quả chiến tranh bằng việc tẩy sạch chất độc da cam/dioxin còn tồn dư ở các “điểm nóng”?

Đó chẳng phải cũng là một cách hữu hiệu để giảm bớt những hệ lụy bi thảm mà chất độc da cam/dioxin vẫn còn tiếp tục gây ra cho người dân và đất đai, môi trường Việt Nam nhiều năm sau chiến tranh hay sao!

Và đương nhiên rồi, thích hợp nhất để thực hiện công việc này là phía Mỹ, quốc gia nhiều năm trước đã tiến hành chiến dịch “Bụi đường mòn”, phun rải một số lượng khổng lồ chất độc hóa học, trong đó có loại tác nhân cực độc da cam/dioxin xuống nhiều vùng ở Việt Nam. Cũng chính quân đội Mỹ đã tồn trữ một số lượng lớn các chất độc hóa học này tại các sân bay nằm trong căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam; số chất độc này, bằng nhiều cách, đã rò rỉ, thẩm thấu xuống các tầng đất sâu, để lại những “vùng chết”, những khối u ác tính trên da thịt quê hương Việt Nam.

Để chữa trị, cắt bỏ những khối u ung thư ác tính đó, tướng Vịnh hiểu rõ rằng Việt Nam cần phải có sự hợp tác với bên ngoài thì mới đạt được hiệu quả. Nhưng có một điều nữa mà Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh biết rất rõ: quá trình hợp tác trong - ngoài nhằm khắc phục hậu quả của chất độc da cam/dioxin không hề đơn giản. Quá trình đó giống như một chiếc xe đạp lăn bánh hướng về phía trước mà để duy trì sự cân bằng cho chiếc xe đạp khỏi đổ, phải luôn có hai chân cùng đạp.

Làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách hoạt động đối ngoại trong nhiều năm cho tướng Vịnh kinh nghiệm rằng để đạt được hiệu quả hợp tác giữa các đối tác luôn là một quá trình uyển chuyển, linh hoạt, khi tiến khi lùi, nhịp nhàng ăn khớp như trong điệu nhảy tango. Và một điệu nhảy tango thì luôn phải cần có hai người.

Nước Mỹ, quốc gia đã sử dụng chất độc da cam/dioxin trong thời gian chiến tranh là đối tác thích hợp nhất cùng với phía Việt Nam tham gia vào “điệu tango” giải quyết những hậu quả bi thảm của chất độc da cam/dioxin mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Chỉ có nước Mỹ, với nguồn lực khổng lồ, bao gồm tài chính, công nghệ, nhân lực mới đáp ứng được những yêu cầu cực kỳ phức tạp của một quá trình như vậy. Đó là sự hợp tác giữa hai phía để khắc phục hậu quả, không phải là bồi thường chiến tranh. Người Mỹ rất dị ứng với hai chữ “bồi thường”. Sự thất bại trong việc thực hiện nội dung “Mỹ bồi thường chiến tranh” trong Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam cho thấy vấn đề này nhạy cảm như thế nào!

Nhưng nước Mỹ bao la rộng lớn với những thiết chế quyền lực rối rắm phức tạp không phải là một đối tác cụ thể mà Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, một trong những đại diện cho phía Việt Nam, có thể tham gia đối thoại, đàm phán. Cần có những con người cụ thể, những tổ chức cụ thể.

Vậy ai sẽ là đối tác phía Mỹ cùng với Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh tham gia vào các nỗ lực của hai phía nhằm khắc phục hậu quả chất độc da cam/ dioxin?

nhung-nguoi-song-voi-di-chung-chat-doc-da-cam-gan-san-bay-bien-hoa-03-9493.jpg
Thượng nghị sĩ Patrick Leahy, phó chủ tịch Ủy ban Phân bổ ngân sách Thượng viện Mỹ, đã có mặt tại sân bay Biên Hòa cùng 8 thượng nghị sĩ khác trong lễ khởi động dự án tẩy độc sân bay Biên Hòa. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc phòng, đón ông Leahy tại cửa xe. (Ảnh: USAID Việt Nam.)

Khoảng cách khó lấp đầy

Năm 2009, khi được bổ nhiệm vào chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, một trong những nhiệm vụ Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh được phân công là chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả chiến tranh của Bộ Quốc phòng Việt Nam, nằm trong tổng thể các nỗ lực chung của chính phủ Việt Nam.

Khắc phục hậu quả chiến tranh bao gồm xử lý vật liệu chưa nổ (UXO), hỗ trợ các nạn nhân bị bom mìn, giúp đỡ các nạn nhân của chất độc da cam/ dioxin ở Việt Nam. Trong khi các hoạt động liên quan đến UXO có những bước tiến triển thì ở lĩnh vực khắc phục hậu quả của chất độc da cam/ dioxin đến thời điểm đầu những năm 2000 hầu như không có mấy tiến triển.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng cơ bản là tồn tại sự khác biệt quá lớn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong cách nhìn nhận hậu quả của chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam. Phía Hoa Kỳ nhất quyết không thừa nhận việc quân đội Mỹ sử dụng da cam/dioxin đã gây nên thảm họa môi trường và cho con người Việt Nam.

Lập trường này của phía Mỹ dựa trên cơ sở rằng cho đến thời điểm đầu những năm 2000, vẫn chưa có một nghiên cứu khoa học nào đưa ra kết luận chắc chắn có một sự liên hệ trực tiếp giữa chất da cam/dioxin với tình trạng tàn phế, bệnh tật, thậm chí quái thai, trên cơ thể của các nạn nhân ở Việt Nam.

Trong khi đó thì lập trường của phía Việt Nam là việc quân đội Mỹ sử dụng chất độc da cam/dioxin có trong chất khai quang làm rụng lá ở nhiều địa điểm miền Nam Việt Nam đã gây nên những tổn thất trầm trọng cho môi trường và con người Việt Nam; dứt khoát Mỹ có món nợ da cam/dioxin với Việt Nam, về mặt đạo lý cũng như pháp lý, Hoa Kỳ có nghĩa vụ và trách nhiệm phải đền bù cho Việt Nam.

Do có sự khác biệt không thể dung hòa giữa hai phía như vậy nên những sự hỗ trợ khắc phục hậu quả chiến tranh của phía Hoa Kỳ trong lĩnh vực da cam/dioxin mới chỉ giới hạn trong phạm vi của các tổ chức phi chính phủ; còn Chính phủ, Quốc hội và đặc biệt là Bộ Quốc phòng Mỹ đều ngó lơ, không thừa nhận trách nhiệm bồi thường cho các nạn nhân phía Việt Nam.

Từ năm 2010, theo thỏa thuận giữa hai Bộ Quốc phòng Việt Nam và Hoa Kỳ, hai bên tổ chức đối thoại quốc phòng hàng năm ở cấp Thứ trưởng. Tháng 9 năm 2011, trong cuộc đối thoại quốc phòng lần thứ hai diễn ra tại Hoa Kỳ, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đã ký với ông Robert Scher, Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Bản ghi nhớ giữa Bộ Quốc phòng hai nước về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương.

Trong Bản ghi nhớ này, hai bên thống nhất ưu tiên 5 lĩnh vực hợp tác, trong đó lĩnh vực thứ năm là hợp tác về Hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Nhưng mặc dù trong các cuộc đối thoại với Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, phía Hoa Kỳ khẳng định mạnh mẽ sẽ hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong các hoạt động khắc phục hậu quả chiến tranh nhưng cũng chỉ trong lĩnh vực rà phá phá bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại từ thời kỳ chiến tranh. Vấn đề da cam/dioxin hoàn toàn không được đề cập đến.

Trở về từ Hoa Kỳ, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh suy nghĩ lao lung. Ông biết rằng nếu không nhanh chóng tìm ra đối tác thích hợp thì khó có thể đạt được sự đột phá trong lĩnh vực nhạy cảm nhưng giữa hai phía vẫn còn khoảng cách quá lớn này. Mà khắc phục hậu quả của chất độc da cam/ dioxin là điều không thể không giải quyết bởi hơn ba mươi năm đã trôi qua kể từ khi chiến tranh kết thúc, những di chứng còn lại của loại chất độc này vẫn tiếp tục đè nặng lên trên môi trường và con người Việt Nam.

Trước và trong chuyến tham dự đối thoại quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2011 ấy, trong các cuộc tiếp xúc làm việc với các cán bộ ngoại giao Việt Nam đang làm việc tại Mỹ cũng như các quan chức quốc phòng Mỹ, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh luôn đặt câu hỏi: nếu xúc tiến các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực khắc phục hậu quả chất độc da cam/dioxin với phía Mỹ thì ai là người thích hợp nhất?

Hầu hết các câu trả lời đều tập trung vào một nhân vật đặc biệt có tên là Patrick Leahy.

Mà trong lĩnh vực hợp tác với Hoa Kỳ sau chiến tranh thì Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh có một sự hỗ trợ cực kỳ to lớn: tính đến thời điểm đó, đã hơn ba mươi năm có lẻ, phía Việt Nam thực hiện chương trình tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích (MIA) trong chiến tranh Việt Nam.

Bắt đầu từ năm 1973, ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết và tiếp tục đến tận thời hậu chiến, nỗ lực của các cơ quan chức năng cùng sự giúp đỡ của người dân đã mang lại kết quả đáng kinh ngạc. Trong số 1.247 quân nhân Mỹ mất tích, hơn 1.000 hài cốt đã được khai quật và hồi hương.

Sự nỗ lực này diễn ra trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn hàng trăm nghìn hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy. Tuy nhiên, Việt Nam đã thực hiện hoạt động tìm kiếm MIA một cách vô điều kiện, không đòi hỏi bất cứ sự đền bù nào, chỉ với một mục đích nhân đạo duy nhất: giúp giảm nỗi đau cho các gia đình Mỹ. Các đội tìm kiếm của Việt Nam đã không ngại khó khăn, nguy hiểm để xác định vị trí và cất bốc hài cốt. Sau này, các đội hỗn hợp Việt - Mỹ cũng đã làm việc hiệu quả, dù phải đối mặt với nhiều rủi ro.

Thượng nghị sĩ Patrick Leahy hiểu và đánh giá cao nghĩa cử này. Đáp lại, ông đã lập một quỹ hỗ trợ xác định danh tính quân nhân Việt Nam mất tích, với sự tham gia của các chuyên gia pháp y Mỹ. Điều này thể hiện sự đối ứng thiện chí và mong muốn cùng nhau giải quyết vấn đề hậu quả chiến tranh.

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh giới thiệu với Thượng nghị sĩ Patrick Leahy một cuốn sách ảnh về Việt Nam
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh giới thiệu với Thượng nghị sĩ Patrick Leahy một cuốn sách ảnh về Việt Nam.

Thượng tướng Vịnh đã nói với ông Leahy rằng mặc dù hai bên còn bất đồng về việc bồi thường cho nạn nhân da cam/dioxin, nhưng cả hai đều ngầm hiểu Mỹ có trách nhiệm khắc phục hậu quả chiến tranh. Tướng Vịnh đặt vấn đề: “Vì sao hai bên không hợp tác để xử lý các khu vực bị nhiễm độc nặng nề ở miền Nam Việt Nam, cụ thể là tại sân bay Đà Nẵng?”.

Leahy, với vị trí là Phó Chủ tịch Ủy ban chuẩn chi Thượng viện Mỹ, đã thấy đây là một cơ hội thuận lợi. Ông và Tướng Vịnh đã nhất trí rằng nếu Mỹ có thể bố trí ngân sách và công nghệ để xử lý dioxin ở Đà Nẵng, Việt Nam cũng sẽ đóng góp vốn đối ứng. Dự án tại sân bay Đà Nẵng sẽ trở thành “đột phá khẩu”, mở đường cho sự hợp tác rộng lớn hơn trong việc giải quyết hậu quả chiến tranh, một hồ sơ đã gây đau đầu cho cả hai bên trong suốt thời gian dài./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Nỗ lực "vòng qua bức tường" của Tướng Nguyễn Chí Vịnh
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO