Xoa dịu nỗi đau da cam

"Chiếc hộp Pandora" trong vấn đề chất da cam/dioxin

31/03/2026 12:04

Tại Việt Nam, chỉ ít năm sau chiến tranh, các bác sĩ và nhà khoa học đã bắt đầu thống kê dị tật bẩm sinh, các ca quái thai, sảy thai liên tiếp ở những vùng từng bị rải hóa chất.

Tại Việt Nam, chỉ ít năm sau chiến tranh, các bác sĩ và nhà khoa học đã bắt đầu thống kê dị tật bẩm sinh, các ca quái thai, sảy thai liên tiếp ở những vùng từng bị rải hóa chất.

Một báo cáo của Bộ Y tế năm 1978 đã nêu rõ sự gia tăng bất thường của các dị tật tại Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Tây Ninh. Nhưng thế giới không nghe.

Tại Mỹ, chính quyền khi ấy chọn cách im lặng. Chất da cam trở thành vấn đề cấm kỵ trong chính giới Mỹ bởi bất kỳ sự thừa nhận nào cũng đồng nghĩa với mở lại “chiếc hộp Pandora” trách nhiệm pháp lý. Kể cả trong nội bộ giới khoa học Mỹ, việc tranh luận về hậu quả của dioxin cũng bị bao trùm bởi áp lực chính trị.

Năm 1987, Viện Y học Quốc gia Mỹ công bố báo cáo cho rằng “chưa có đủ bằng chứng kết luận mối liên hệ trực tiếp giữa dioxin và dị tật di truyền”, đủ để giữ nước Mỹ khỏi nghĩa vụ đạo lý.

Trong khi đó, tại Việt Nam, Giáo sư Võ Quý và bác sĩ Lê Cao Đài cùng nhóm nghiên cứu của họ vẫn kiên trì công bố dữ liệu, tổ chức hội thảo, gửi thư đến các nhà khoa học phương Tây, nhưng tiếng nói ấy như bị nuốt chửng trong tĩnh lặng. Các tài liệu do Việt Nam công bố bị đánh giá là “thiếu khách quan”, “không chuẩn mực quốc tế”, trong khi các tổ chức y tế phương Tây vẫn bị chi phối bởi tư duy Chiến tranh Lạnh.

Vào cuối thập niên 1980, khi Chiến tranh Lạnh đi đến hồi kết, Việt Nam bắt đầu tìm cách tiếp cận lại Mỹ qua các kênh bán chính thức. Các nhà khoa học gửi thư cho các nghị sĩ, các viện nghiên cứu và tổ chức phi chính phủ tại Mỹ, đề nghị hợp tác nghiên cứu. Nhưng những cánh cửa vẫn đóng.

Trong một bài phát biểu tại Hội nghị môi trường quốc tế Paris năm 1990, Giáo sư Võ Quý nói: “Tôi không mang theo tiếng nói của một chính phủ. Tôi chỉ là một nhà khoa học và tiếng nói của tôi là tiếng nói của hàng vạn đứa trẻ bị dị tật, của những cánh rừng đã chết không thể hồi sinh.”

Từ những tiếng nói của các nhà khoa học Việt Nam ấy mà các tổ chức như Quỹ Ford, Viện Aspen và một số trường đại học Mỹ bắt đầu chú ý. Họ chưa hứa hẹn, nhưng bắt đầu đặt câu hỏi: “Có điều gì đó đã bị bỏ quên?”

Trong khoảng thời gian đó, nhiều cuộc tiếp xúc không chính thức vẫn diễn ra ở hậu trường. Các nhà khoa học Việt Nam như GS.Nguyễn Thị Ngọc Phượng, TS.Nguyễn Trọng Nhân và bác sĩ Tôn Thị Kim Thanh tiếp tục trình bày các nghiên cứu tại các diễn đàn khoa học quốc tế, trong đó có Hội nghị về Môi trường và Sức khỏe toàn cầu tại Bangkok, Thái Lan năm 2002 và các cuộc họp chuyên đề do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đồng tổ chức.

Cũng cùng năm đó, Hội nghị quốc tế đầu tiên về chất độc da cam đã được tổ chức tại Hà Nội với sự tham gia của hơn 100 nhà khoa học và đại diện các tổ chức phi chính phủ từ cả hai nước. Từ đây, một nhóm đối thoại phi chính thức được thành lập, gồm Tiến sĩ Charles Bailey, Tiến sĩ Lê Kế Sơn cùng nhiều nhà hoạt động như Edwin Martini, Jeanne Stellman...

Nhóm đối thoại hoạt động ngoài kênh ngoại giao chính thức, tập trung vào ba trụ cột: xác định điểm nóng ô nhiễm, tìm giải pháp xử lý thực tiễn, và thúc đẩy chăm sóc nạn nhân. Dưới sự dẫn dắt của Charles Bailey, Quỹ Ford trở thành tổ chức quốc tế đầu tiên tài trợ cho các nghiên cứu độc lập về chất da cam tại Việt Nam, bất chấp tranh cãi còn âm ỉ.

Charles Bailey không tìm cách buộc tội ai; triết lý của ông đơn giản: “Nếu có ô nhiễm, phải đo đạc. Nếu có nạn nhân, phải giúp đỡ. Nếu có tranh cãi, phải đối thoại”.

Tháng 7/1995, khi Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, tiếng vỗ tay vang lên trong Phòng Bầu Dục như một biểu tượng “hướng tới tương lai”. Nhưng ngoài ánh đèn truyền thông, vẫn còn một “tảng đá cuối cùng” chưa được dỡ bỏ khỏi cây cầu vượt qua quá khứ: chất độc da cam.

Mỹ và Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra các toà Đại sứ, ký các văn bản hợp tác. Nhưng trong tất cả những văn bản đó, không có dòng nào nhắc đến Agent Orange-Tác nhân da cam.

Trong tất cả cac cuộc thảo luận, chất da cam vẫn là một “từ cấm”. Phía Mỹ lo sợ bất kỳ sự thừa nhận nào cũng có thể kéo theo hệ lụy pháp lý, chính trị và tài chính khôn lường. “Có những tảng đá lớn trên cây cầu, chúng ta đã gỡ bỏ. Giờ chỉ còn một tảng đá nhỏ – chất da cam. Và chúng ta phải tìm cách xử lý nó…”, ông Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Việt Nam từng nói.

Trong suốt giai đoạn từ 1995 đến 2005, cả hai chính phủ dường như chơi trò “bịt mắt bắt dê” với chính lịch sử. Việt Nam kiên trì yêu cầu Mỹ ba điều: thừa nhận trách nhiệm, hợp tác khắc phục ô nhiễm, và hỗ trợ nhân đạo cho các nạn nhân.

Nhưng phía Mỹ, đặc biệt là Bộ Quốc phòng Mỹ và Bộ Ngoại giao Mỹ, vẫn giữ lập trường: “Việt Nam chưa cung cấp đủ bằng chứng khoa học đáng tin cậy về mối liên hệ giữa phơi nhiễm dioxin và các dị tật, bệnh tật.”

Trong khi đó, tại Việt Nam, rất nhiều gia đình tiếp tục sinh ra những đứa trẻ không thể nói, không thể đi lại, hay mang các dị tật bẩm sinh. Cha mẹ của những đứa trẻ, đa số là cựu chiến binh, không thể lý giải nguyên nhân ngoài lời nguyền mang tên Bàn tay lực điền./.

    Nổi bật
        Mới nhất
        "Chiếc hộp Pandora" trong vấn đề chất da cam/dioxin
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO