Cho tới nay đã có đủ bằng chứng, hồ sơ và tư liệu về vai trò của Tổng thống, Chính phủ Mỹ, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, các Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, quân đội Mỹ và quân đội các nước đồng minh của Mỹ, các công ty hoá chất Mỹ sản xuất và cung ứng chất diệt cỏ chiến thuật cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam. Những sự kiện mang tính biên niên sử dưới đây cho thấy rất rõ điều này:
Năm 1961:
12/4: Một bản kiến nghị được gửi lên Tổng thống Mỹ John F. Kennedy, đề xuất 9 hoạt động quân sự tại Việt Nam, trong đó có việc rải chất diệt cỏ.
Tháng 5: Phó tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson tới Sài Gòn gặp Tổng thống Việt Nam Ngô Đình Diệm. Trong các quyết định được đưa ra lần này, có việc thành lập một Trung tâm Nghiên cứu quân sự nhằm phát triển các vũ khí mới. Trung tâm này có nhiệm vụ xem xét việc sử dụng chất diệt cỏ để phá các khu rừng nơi Quân giải phóng miền Nam và bộ đội miền Bắc ẩn náu, đồng thời phá hủy cây lương thực của họ.
10/8: Phi vụ rải thử lần đầu tiên. Một máy bay trực thăng của quân đội Sài Gòn rải chất dinoxol (có chứa dioxin) dọc theo một con đường ở phía bắc Kon Tum.
24/8: Một máy bay của quân đội Sài Gòn rải chất dinoxol xuống một quãng đường ở phía bắc Sài Gòn. Vị trí này do Ngô Đình Diệm chọn.
23/9: Bộ Quốc phòng và Chính phủ Mỹ ra thông điệp chung nhấn mạnh phải tiến hành khẩn cấp các hoạt động hỗ trợ chính quyền Sài Gòn. Thông điệp đề xuất triển khai chương trình khai quang. Trong nội bộ Bộ Quốc phòng Mỹ, có những tiếng nói chống lại chương trình này, nhưng không được ai chú ý.
3/11: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara nhận lệnh triển khai chương trình khai quang theo ba giai đoạn.
7/11: Robert S. McNamara yêu cầu các chỉ huy lực lượng không quân “ưu tiên cung cấp các máy bay (Fairchild C-123), nhân lực và hóa chất” cần thiết cho chiến dịch.
30/11: John F. Kennedy phê chuẩn chương trình sử dụng chất diệt cỏ ở Việt Nam. Chương trình có mật danh “Trail dust” (Con đường bụi) bao gồm việc rải trên không, từ máy bay và trực thăng; rải trên mặt đất, từ tàu thủy và xe tải. Các chiến dịch do không quân đảm nhiệm có mật danh Hadès, tên Thần chết trong thần thoại Hy Lạp. Vài năm sau, mật danh được đổi là “Ranch Hand”.
4/12: Quyết định chính thức bắt đầu chiến dịch ngày 15. Trên 15.000 lít chất hồng và chất xanh đã sẵn sàng tại Sài Gòn.
15/12: Một chuyến tàu chở 416.350 lít chất tím và 185.465 lít chất hồng rời cảng Oakland, California tới Việt Nam.
Năm 1962:
7/1: Máy bay Fairchild C-123 rời Philippines và hạ cánh vào buổi chiều tại sân bay Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. Các máy bay này đậu trong khu vực dành riêng cho Tổng thống Ngô Đình Diệm. Vào lúc cao điểm nhất của chiến dịch, có tới 22 máy bay tham gia.
8/1: Chuyến tàu đầu tiên chở chất diệt cỏ tới Sài Gòn.
10/1: Chuyến bay rải thử đầu tiên, một chiếc C-123 rải 830 lít chất tím. Ngay sát trước chiếc C-123 này là một máy bay của không quân Sài Gòn rải truyền đơn giải thích tại sao phải rải chất diệt cỏ.
13/1: 3 chiếc C-123 chính thức bắt đầu chiến dịch rải chất diệt cỏ.
Tháng 9: Chương trình được tăng cường, nhằm chủ yếu vào các rừng đước ở Cà Mau.
2/10: Tổng thống Mỹ cho phép phá hủy cây lương thực. (Theo số liệu của quân đội Mỹ, 64.990 lít chất diệt cỏ đã được sử dụng trong năm 1962).
Năm 1963:
Tháng 2: Lần đầu tiên báo chí Mỹ chỉ trích “cuộc chiến tranh bẩn thỉu”. Gần 283.000 lít chất diệt cỏ đã được sử dụng.
Năm 1965:
Tháng Giêng: Đưa vào sử dụng hai loại hóa chất diệt cỏ mới, chất da cam (chiếm tới 60% trong tổng số chất diệt cỏ được dùng tại Việt Nam) và chất trắng.--PageBreak--
Tháng 12: Chiến dịch rải tập trung trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, là đường tiếp viện của bộ đội miền Bắc và Quân giải phóng miền Nam, có đoạn đi qua Lào.
Năm 1966:
Tháng 6: Một máy bay tham gia chiến dịch “Bàn tay lực điền” bị bắn rơi ở Quảng Trị.
Gần 9,6 triệt lít chất diệt cỏ đã được sử dụng trong năm.
Năm 1967:
Tháng 2: 5.000 nhà khoa học, trong đó có 17 người được giải Nobel) ký tên vào kiến nghị gửi Tổng thống Lyndon B.Johnson, yêu cầu ngưng ngay việc rải chất diệt cỏ.
Tháng 10: Hai bản báo cáo chính thức của Mỹ kết luận việc phá hoại cây cối bằng chất diệt cỏ không ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp vận cho bộ đội miền Bắc và quân giải phóng miền Nam.
Việc rải chất diệt cỏ đạt tới mức cao nhất: hơn 19,3 triệu lít đã được sử dụng trong năm theo số liệu của quân đội Mỹ.
Năm 1968:
Số quân Mỹ tại Việt Nam lên đến con số kỷ lục: 538.000 lính. Trong năm đó, trên 19,2 triệu chất diệt cỏ được rải. Chất da cam II (hay siêu da cam) bắt đầu được sử dụng.
Năm 1969:
16/12: Liên Hiệp Quốc khẳng định rằng việc sử dụng các hóa chất có ảnh hưởng đến cơ thể con người, súc vật và cây cối bị cấm, chiểu theo Nghị định Giơnevơ ký ngày 17-6-1925 về sử dụng các chất gây ngạt, chất độc và các chất tương tự. Quân đội Mỹ đã rải 17,2 triệu chất diệt cỏ.
Năm 1970:
15/4: Bộ Quốc phòng Mỹ tạm ngưng việc sử dụng chất da cam tại Việt Nam, sau khi một hợp chất (2,4,5 - T có chứa dioxin) bị cấm sử dụng tại Mỹ.
9/5: Phi vụ cuối cùng rải chất diệt cỏ của chiến dịch “Bàn tay lực điền”. Tuy nhiên, việc phá cây lương thực vẫn tiếp diễn. Trên 2,8 triệu lít chất diệt cỏ đã được rải trong năm 1970.
Năm 1971:
7/1: Phi vụ cuối cùng của chiến dịch “Bàn tay lực điền” nhằm phá cây lương thực tại tỉnh Ninh Thuận.
31/10: Chuyến bay rải chất diệt cỏ cuối cùng bằng trực thăng của Mỹ. Quân đội Mỹ rút dần ra khỏi Việt Nam và để lại một lượng lớn chất diệt cỏ cho đồng minh Nam Việt Nam.
Gần 38.000 lít đã được rải trong năm 1971.
Năm 1972:
Tháng 4: Theo lệnh của Bộ Quốc phòng Mỹ, 5,1 triệu lít chất da cam được đưa từ Việt Nam về đảo Johnson, trên Thái Bình Dương. Lúc đó Mỹ vẫn còn giữ 3,2 triệu lít trong một căn cứ tại bang Mississippi.
Năm 1973:
27/1: Ký kết Hiệp định Paris. Điều 21 nêu rõ: "Nước Mỹ sẽ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh và giúp đỡ công cuộc xây dựng lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.
Năm 1975:
8/4: Tổng thống Mỹ Gerald Ford ký quyết định từ bỏ việc sử dụng chất diệt cỏ khi tiến hành chiến tranh.
Năm 1977:
Chất da cam còn tồn trữ tại Mỹ được chuyển lên một con tàu mang tên Vulcanus của Hà Lan và được đốt ở nhiệt độ cao ngoài khơi phía bắc Thái Bình Dương.
Thực tế và thời gian ngày một chứng minh rằng đây là một cuộc chiến tranh hoá học có quy mô lớn nhất, dài ngày nhất và gây hậu quả thảm khốc nhất trong lịch sử loài người: 10 năm với 19.905 phi vụ, phun rải 80 triệu lít chất độc hóa học, trong đó 61% là chất da cam, chứa 366kg dioxin xuống 25.585 thôn bản (chiếm 1/4 diện tích miền Nam Việt Nam). Cuộc chiến tranh phi nghĩa đó không chỉ làm cho 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm chất độc hoá học, hơn 3 triệu người là nạn nhân, mà còn gây nên biết bao thảm cảnh và hệ luỵ buồn đau xuyên thế hệ trong các gia đình cựu chiến binh, nạn nhân chất độc da cam…
Điều đáng chú ý nằm ở chỗ các cựu binh Mỹ chính là những người đâm đơn kiện sớm nhất vào các vấn đề sức khỏe do chất diệt cỏ gây ra. Khoảng những năm cuối của thập niên 1970, nhiều cựu binh Mỹ ở Việt Nam bị nhiễm chất da cam/dioxin đã bắt đầu khởi kiện. Khi đó, Việt Nam sau ngày thống nhất đất nước còn chưa kịp hồi phục những vết thương tích nặng nề và ám ảnh, đang bị bao vây cấm vận và chưa đủ điều kiện cho một hành trình đòi công lý.
Nhưng không ai cáo buộc được Chính phủ Mỹ. Do nước Mỹ sử dụng điều luật miễn trừ trách nhiệm, cho phép chính phủ không thể bị kiện, ngay cả trong trường hợp cáo buộc sơ suất, nên các vụ kiện của các cựu binh Mỹ chuyển hướng cáo buộc các công ty hóa chất đã sản xuất và bán chất da cam/dioxin cho quân đội Mỹ, phạm tội ác chiến tranh và đòi bồi thường.
Không có phán quyết nào của tòa án, nhưng các vụ kiện cũng đã dẫn đến một cuộc dàn xếp hồi năm 1984, theo đó các công ty hóa chất Mỹ, trong đó có Dow Chemical, Monsanto và một số công ty khác, chấp nhận bồi thường 180 triệu USD cho các cựu binh Mỹ bị ảnh hưởng chất độc này.
Năm 2003, Bộ Cựu Chiến binh cũng đã đồng ý bồi thường và Quốc hội Mỹ đã cấp 13,3 tỷ USD cho mục đích này.
Tuy nhiên, hành trình đòi công lý cho các nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam, không đạt kết quả sớm như các cựu binh Mỹ. Những người phải trực tiếp hứng chịu nỗi đau tàn khốc cả về thể xác lẫn tinh thần do chất độc này gây ra, vẫn còn phải đi qua những hành trình quá gian nan.../.